Link xem trực tuyến: BỆNH HỌC NỘI KHOA YHCT KẾT HỢP YHHĐ
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh học. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 25 tháng 11, 2014
Thứ Hai, 24 tháng 11, 2014
Học thuyết Thủy Hỏa và hai phương thuốc cổ: Lục vị và Bátt vị
A. Hiểu biết học thuyết thủy hỏa
I. Khái niệm về thuỷ hoả:
Mọi thứ trong trời đất dù là vô hình, hữu hình đều do sự vận động của trời đất mà có, hay nói cách khác là do có sự giao hợp lẫn nhau giữa khí trời và khí đất. Khí trời là dương, trong khí trời có cả ảnh hưởng của mặt trời. Đất là âm, trong khí đất có cả hơi nước ở đất. Khí trời, khí đất là khí vô hình; ánh lửa, hơi nước là khí hữu hình. Vì thế khi nói là khí âm dương là đã có sự trung hoà lẫn nhau giữa khí và chất. Khí là dương, chất là âm. Trong chất là âm có ánh lửa thuộc dương, hơi nước thuộc âm, trong khí dương có khí trời thuộc dương, khí đất thuộc âm. Đó là trong dương và âm đều có âm dương.
Trời đất hoá dục muôn vật đều phải do sự xâm nhập của khí âm dương trong bốn mùa, rồi mới có thể phát triển được công năng: sinh trưởng, thu, tàng; để làm chung thuỷ cho muôn vật. Vì vậy trời đất lấy 2 khí âm dương mà hoá sinh muôn vật. Thuỷ hoả là chỗ bình hiện rõ ra của âm dương, mà âm dương là tính hình của thuỷ hoả. Như vậy thông qua thuỷ hoả mới hiểu được âm dương và cũng thông qua âm dương mới hiểu được sự tương quan và tác động lẫn nhau giữa thuỷ và hoả.
1) Thuỷ – hoả trong thiên nhiên.
Thuỷ là nước, chỗ nhiều nước nhất là biển; gốc của nước là mặn. Nước còn có nhiều dạng khác nhau, ở nhiều chỗ khác nhau: nước thể lỏng, hơi, mây, mù, sương, mưa, tuyết, nước trong đất, nước ở trong động vật và thực vật. Nước ở trong ko gian: sông, ngòi, suối…
Hoả là lửa, chỗ có nhiều lửa nhất là mặt trời. Lửa có nhiều dạng khác nhau, ở nhiều chỗ khác nhau: lửa mặt trời, lửa trong lò, trong lòng đất, trong sấm, chớp…
Thuỷ hoả luôn có hai mặt đối lập nhau về thể, tính, năng, dụng:
2) Sự giao hợp của thuỷ hoả:Mọi sự sống trên trái đất đều do sự giao nhau của thuỷ và hoả. Mặt trời chiếu xuống, hơi nước bốc lên, thì mới có mây mưa- mới có mọi sinh vật trên trái đất.
Ta thấy mọi sự sống đều phải nhờ có mặt trời, có nước. Nếu chỉ có mặt trời mà ko có nước thì tất cả sẽ bị đốt khô hoặc nếu chỉ có nước mà ko có mặt trời thì tất cả tối tăm lạnh lẽo thì làm gì có sự sống được. Cho nên mọi sự sống xuất hiện đều do ở sự giao tiếp lẫn nhau giữa thuỷ và hoả. Thuỷ hoả giao nhau gọi là thuỷ hoả ký tế, ký tế thì sinh ra vật. Ngược lại thuỷ hoả ko giao tiếp với nhau gọi là thuỷ hoả vị tế.
Ánh sáng mặt trời nuôi sống mọi vật gọi là ôn dưỡng, nước nuôi sống muôn vật gọi là nhu dưỡng. Ôn là ấm ko phải là nóng, nhu là mát chứ ko phải là ướt… làm có sự ôn, sự nhu là nhờ có thuỷ hoả giao nhau. Sự sống được bình thường là do ôn dưỡng và nhu dưỡng luôn luôn ở trong sự cân bằng tương đối.
3) Thuỷ hoả trong con người:Trong cơ thể con người, làm nền sự ôn dương gọi là dương khí, làm nền sự nhu dưỡng gọi là âm huyết. Dưỡng khí, âm huyết luôn luôn tồn tại và hỗ căn lẫn nhau, hai mà một, một mà hai. Đó là sự hiện hình của âm dương, cũng là thực thể của thuỷ hoả giao hợp với nhau trong nhân thể.
Thuỷ hoả tiên thiên là nguồn gốc sinh ra con người. Từ nam giới (dương) và nữ giới (âm), có giao hợp thì mới sinh được con cái. Âm dương có giao nhau thì thuỷ hoả mới tụ lại, bốn thứ ấy hợp lại là một thì gọi là giao khí, giao khí; là thứ khí có từ ban đầu gọi là nguyên khí, cũng gọi là bẩm khí tiên thiên… Từ khí có bẩm khí tiên thiên mới phát triển thành hình thể và thần khí của con người. Hình thể là âm từ thuỷ mà hoá thành, thần khí là dương mà sinh ra. Chính vì có âm dương; thuỷ hoả giao hoà lẫn nhau mà thể ôn của người ta là 370C. Mỗi khi âm, dương; thuỷ, hoả mất cân bằng thì thể ôn của người sẽ thay đổi và khi ko còn thể ôn nữa là chết.
Người ta vì có chân thuỷ, chân hoả trong bẩm khí tiên thiên nên trong cơ thể mới luôn luôn có sự ôn dưỡng và nhu dưỡng. Nhưng để thực hiện việc ôn dưỡng và nhu dưỡng khí với huyết chứ ko phải chân thuỷ, chân hoả. Chân thuỷ, chân hoả là cái gốc bẩm sinh từ tiên thiên mà do thận làm chủ. Khí huyết là cái ngọn; sinh ra từ hậu thiên do tâm can, tỳ phế là chủ về khí.
Có chân thuỷ, chân hoả mới có nguồn sinh ra khí huyết, có khí huyết thì chân thuỷ, chân hoả mới có công dụng hoá sinh và tồn tại. Cho nên khi nói đến khí là có sự liên hệ đến hoả đến dương; khi nói đến huyết là có sự liên hệ đến thuỷ đến âm. Hải Thượng Lãn Ông nói; “Toàn bộ nhan thể ko ra ngoài hai chữ âm dương tức là thuỷ với hoả, mà hai chữ thuỷ hoả tức là khí huyết”.
II. Nguồn gốc của học thuyết thuỷ hoảHọc thuyết thuỷ hoả hay là học thuyết tâm thận do Hải Thượng Lãn Ông, danh y nước ta thế kỷ XVIII dựa trên định lý đã xây dựng nên. Trên cơ sở đó Ông đưa ra phương pháp trị liệu “Giáng tâm hoả, ích thận thuỷ” làm phương châm điều hoà 2 quá trình “thuỷ hoả”, lập lại cân bằng âm dương, làm tiêu tán bệnh tật. Với phương châm đó Hải Thượng Lãn Ông đã sử dụng thành công 2 bài thuốc cổ phương: lục vị và bát vị để bổ thuỷ, bổ hoả; đồng thời ông là người đã sử dụng pháp biến phương tinh thông từ bài thuốc này để điều trị hơn 50 chứng và bệnh.
Ông nói: “Nhà y mà ko hiểu rõ chân tướng của tiên thiên thái cực, ko nghiên cứu tác dụng thần diệu của thuỷ hoả vô hình mà ko thể trọng dụng được những bài thuốc hay như lục vị, bát vị làm thuốc còn thiếu sót hơn một nửa”.
2) Sự giao hợp của thuỷ hoả:Mọi sự sống trên trái đất đều do sự giao nhau của thuỷ và hoả. Mặt trời chiếu xuống, hơi nước bốc lên, thì mới có mây mưa- mới có mọi sinh vật trên trái đất.
Ta thấy mọi sự sống đều phải nhờ có mặt trời, có nước. Nếu chỉ có mặt trời mà ko có nước thì tất cả sẽ bị đốt khô hoặc nếu chỉ có nước mà ko có mặt trời thì tất cả tối tăm lạnh lẽo thì làm gì có sự sống được. Cho nên mọi sự sống xuất hiện đều do ở sự giao tiếp lẫn nhau giữa thuỷ và hoả. Thuỷ hoả giao nhau gọi là thuỷ hoả ký tế, ký tế thì sinh ra vật. Ngược lại thuỷ hoả ko giao tiếp với nhau gọi là thuỷ hoả vị tế.
Ánh sáng mặt trời nuôi sống mọi vật gọi là ôn dưỡng, nước nuôi sống muôn vật gọi là nhu dưỡng. Ôn là ấm ko phải là nóng, nhu là mát chứ ko phải là ướt… làm có sự ôn, sự nhu là nhờ có thuỷ hoả giao nhau. Sự sống được bình thường là do ôn dưỡng và nhu dưỡng luôn luôn ở trong sự cân bằng tương đối.
3) Thuỷ hoả trong con người:Trong cơ thể con người, làm nền sự ôn dương gọi là dương khí, làm nền sự nhu dưỡng gọi là âm huyết. Dưỡng khí, âm huyết luôn luôn tồn tại và hỗ căn lẫn nhau, hai mà một, một mà hai. Đó là sự hiện hình của âm dương, cũng là thực thể của thuỷ hoả giao hợp với nhau trong nhân thể.
Thuỷ hoả tiên thiên là nguồn gốc sinh ra con người. Từ nam giới (dương) và nữ giới (âm), có giao hợp thì mới sinh được con cái. Âm dương có giao nhau thì thuỷ hoả mới tụ lại, bốn thứ ấy hợp lại là một thì gọi là giao khí, giao khí; là thứ khí có từ ban đầu gọi là nguyên khí, cũng gọi là bẩm khí tiên thiên… Từ khí có bẩm khí tiên thiên mới phát triển thành hình thể và thần khí của con người. Hình thể là âm từ thuỷ mà hoá thành, thần khí là dương mà sinh ra. Chính vì có âm dương; thuỷ hoả giao hoà lẫn nhau mà thể ôn của người ta là 370C. Mỗi khi âm, dương; thuỷ, hoả mất cân bằng thì thể ôn của người sẽ thay đổi và khi ko còn thể ôn nữa là chết.
Người ta vì có chân thuỷ, chân hoả trong bẩm khí tiên thiên nên trong cơ thể mới luôn luôn có sự ôn dưỡng và nhu dưỡng. Nhưng để thực hiện việc ôn dưỡng và nhu dưỡng khí với huyết chứ ko phải chân thuỷ, chân hoả. Chân thuỷ, chân hoả là cái gốc bẩm sinh từ tiên thiên mà do thận làm chủ. Khí huyết là cái ngọn; sinh ra từ hậu thiên do tâm can, tỳ phế là chủ về khí.
Có chân thuỷ, chân hoả mới có nguồn sinh ra khí huyết, có khí huyết thì chân thuỷ, chân hoả mới có công dụng hoá sinh và tồn tại. Cho nên khi nói đến khí là có sự liên hệ đến hoả đến dương; khi nói đến huyết là có sự liên hệ đến thuỷ đến âm. Hải Thượng Lãn Ông nói; “Toàn bộ nhan thể ko ra ngoài hai chữ âm dương tức là thuỷ với hoả, mà hai chữ thuỷ hoả tức là khí huyết”.
II. Nguồn gốc của học thuyết thuỷ hoảHọc thuyết thuỷ hoả hay là học thuyết tâm thận do Hải Thượng Lãn Ông, danh y nước ta thế kỷ XVIII dựa trên định lý đã xây dựng nên. Trên cơ sở đó Ông đưa ra phương pháp trị liệu “Giáng tâm hoả, ích thận thuỷ” làm phương châm điều hoà 2 quá trình “thuỷ hoả”, lập lại cân bằng âm dương, làm tiêu tán bệnh tật. Với phương châm đó Hải Thượng Lãn Ông đã sử dụng thành công 2 bài thuốc cổ phương: lục vị và bát vị để bổ thuỷ, bổ hoả; đồng thời ông là người đã sử dụng pháp biến phương tinh thông từ bài thuốc này để điều trị hơn 50 chứng và bệnh.
Ông nói: “Nhà y mà ko hiểu rõ chân tướng của tiên thiên thái cực, ko nghiên cứu tác dụng thần diệu của thuỷ hoả vô hình mà ko thể trọng dụng được những bài thuốc hay như lục vị, bát vị làm thuốc còn thiếu sót hơn một nửa”.
B. Lục vị hoàn, bát vị hoàn : hai bài thuốc chính điều trị thủy hỏa tiên thiên
BÁT VỊ HOÀN
1.Công thức bài thuốc
Thục địa 8 lạng
Hoài sơn 4 lạng
Sơn thù 4 lạng
Đơn bì 3 lạng
Bạch linh 3 lạng
Trạch tả 3 lạng
Nhục quế 1 lạng
Phụ tử 1 lạng
Bào chế, viên với mật bằng hạt ngô đồng mỗi lần uống 60 – 70 viên lúc đói bụng, nấu nước muối làm thang mà uống, uống xong một lúc thì ăn thức ngon chận lên.
2. Phân tích bài thuốc và ý nghĩa của bài thuốc
Thục địa bổ thận, điều tinh, sinh huyết, là thuốc thánh để bổ âm là đầu vị; Sơn thù vị chua vào can thận, chủ đóng kín mà tính chua liễm hợp với nó, Sơn thù làm ấm can, đuổi phong, cố tinh ích khí. Hai vị thục địa và sơn thù là chất nhu nhuận.
Bạch linh, Sơn dược vào để giúp tỳ vị, khiến cho từ chỗ đó mà sinh ra hóa nguyên, và làm cho hậu thiên phát triển mãi mãi ko cùng. Linh có thể vào tỳ, thấm được thấp nhiệt ở trong tỳ mà thông với thận, giao với tâm, tác dụng của nó đều chủ về thông lợi đỡ cho vị Sơn dược có tính trệ. Vả lại, sắc trắng thuộc kim, có thể bồi dưỡng bộ phận phế lại có ý nghĩa “con hư thì bổ mẹ”. Sơn dược vị ngọt vào tỳ mà bổ tỳ yên được kẻ thù của thủy cho nên dùng làm thần và lại thanh hư nhiệt ở phế lại hay cố tinh bổ thận. Đơn bì để trừ nhiệt nấp ở phần âm, còn tả được cả hỏa ẩn náu của quan tướng, lương huyết lui nhiệt. Đơn bì là hỏa ở phương nam giống đực không phải cái, thuộc dương, cho nên vào được thận, tả được âm hỏa, dẹp lui được chứng nóng âm ỉ trong xương, không có mồ hôi, Đơn bì vào can, tác dụng chủ yếu là tuyên thông để giúp Sơn thù là thuốc cố sáp. Trạch tả lợi tiểu tiện, để thanh tướng hỏa, thông cái trệ của Thục địa để dẫn các thuốc mau đến thận, có bổ có tả mà không thích công phạt. Trạch tả để tả hỏa tà, nước đọng của long lôi lại cùng phục linh thấm nhạt, chuyển vận các vị thuốc đi xuống. Trạch tả, Phục linh tính thấm tả chính là để cho mau khiến cho chóng thông xuống dưới, thận âm không giữ được bốc cháy lên trên. Dùng Trạch tả tính mạnh để đưa phần âm trong dương xuống. Trong bài bát vị, kiêm cả công lẫn bổ, đầy đủ cả âm dương, vì không có dương thì âm không thể sinh sôi nảy nở được, cho nên các vị Nhục quế, Phụ tử là loại thuốc cay nhuận, có thể bổ hỏa trong thủy, thủy hỏa được nuôi dưỡng thì thận khí trở nguyên chỗ. Phụ tử là thuốc của cả tam tiêu, cay nóng thuần dương lưu thông các kinh mạch, tính chạy mà không giữ lại, Nhục quế là thuốc kinh thiếu âm, tuyên thông huyết mạch, tính cũng bốc, hai vị ấy đều khó khống chế, cần được 6 vị kia là thứ thuần âm, vị hậu, nhuận hạ để khơi thông đưa đường rồi mới dẫn xuống thận, tự nhiên sẽ không ngại chấn động lên nữa.
Ý nghĩa của bài Bát vị: phương này chữa chứng tướng hỏa không đủ, hư gầy khí kém, cho nên Vương Băng cho rằng “Bổ ích nguồn chân hỏa để làm tiêu tan mây mù trong phần âm”, mạch xích nhược thì dùng rất thích hợp.
3. Công dụng bài thuốc
Trị các chứng : mệnh môn hỏa suy, tướng hỏa không đủ không sinh được thổ, đến nỗi tỳ vị hư hàn, hư yếu, khí kém, không thiết ăn uống, đại tiện không rắn, rốn bụng quặn đau, đêm đi đái nhiều, hoặc mạch hư nhược, thổ yếu thủy thắng, thiếu hỏa hao kém; hoặc mạch rỗng ấn vào có lực, hoặc hỏa hư đờm thịnh, cùng với các chứng âm thịnh cách dương, trong thực hàn mà ngoài giả nhiệt, nên nói rằng bổ ích cho nguồn chân hỏa để tiêu tan mây mù trong phần âm là thế.
4. Cách gia giảm bài Bát vị:
- Thận hư ỉa chảy, kiết lỵ kéo dài gia Thăng ma, Phá cố chỉ, Ngũ vị; bội Linh, Trạch; khử Mẫu đơn.
- Mạch bộ xích bên phải vi tế mà phần dương kém quá bội Quế Phụ.
- Mạch bộ xích bên trái hồng sác mà phần âm quá thiếu thì bội Thục địa, hoặc chưng thành cao, hoặc nấu trước đi.
- Mạch bộ quan bên trái vô lực, can khí không đủ bội Sơn thù
- Mạch bộ quan bên phải vô lực, tỳ vị kém, bội Linh, Trạch; không có thấp trện thì giảm Linh
- Vị hỏa nhiều quá sinh chứng phát vàng, sốt về chiều, miệng lở hay đói, khát nhiều, giảm Trạch tả, bội Đơn bì
- Can hỏa thịnh nóng như nấu, ngọc hành đau, tiểu tiện ngắn xẻn, bội Thục địa, Đơn bì
- Vị khí yếu, trung khí hư hàn, dễ trướng dễ tiết, khử Mẫu đơn, bội Linh, Trạch, Quế, Phụ.
- Đàn bà kinh bế, huyết ít, có nhiệt, bội mẫu đơn, Thục địa; Hư hàn khử Đơn bì bội Phụ tử, Nhục quế
- Táo khô có dương không âm, khử Trạch tả, bội Thục địa, gia Mạch môn, Ngũ vị, Ngưu tất hay khát uống nhiều bội Linh, Trạch; không khát có nóng như nấu bội Đơn bì, khử Trạch tả, dùng Linh tẩm sữa
- Cô dương bốc nổi lên, vì thận hư không thu nạp đóng kín lại được, gia Ngưu tất, Ngũ vị tử để giúp sức cho Sơn thù vị chua có tính thu liễm
-Dương hư tinh tổn gia Lộc Nhung, Hà xa đều là vị thuộc tính huyết hữu tình, để giúp công năng bổ mạnh cho loài thảo mộc
- Thận hư không thu nạp dược khí về nguyên chỗ là ra chứng hư trướng hư suyễn, nôn tức, khí nghịch lên, thượng tiêu phần nóng, bội Ngưu tất để giúp sức cho Linh, Trạch dẫn đi xuống, gia Ngũ vị để giúp sức cho thu liễm lại
- Thận hư không bế tàng được, khí hư dưới dồn chạy ngươc lên mà thành chứng thần tả(đi ỉa lúc mờ sáng), gia Bổ cốt chỉ, Thỏ ty để bổ phần dương của tỳ thận, có tác dụng cho cả tiên thiên và hậu thiên
- Âm dương đều hư, nóng rét qua lại, giống sốt rét mà không phải sốt rét thì gia Sài hồ, lạnh nhiều thì bội Quế phụ, nóng nhiều thì bội Đơn bì, khát thì gia Mạch môn, Ngũ vị. Bệnh mới mắc lúc đó nguyên khí chưa suy thì tạm gia Hy thiêm để khu tà, tà lui rồi thì bổ ngay là tốt, nóng rét thì âm dương đều hư cả, không nên để lâu, vì đuổi tà cũng là giúp chính khí.
- Vừa mửa vừa ỉa, âm dương kiệt quệ, mửa nhiều có phù nhiệt bốc lên thì bội Đơn bì, gia Ngũ vị để thu lại, tả nhiều thì bội Linh, Trạch để thấm đi, lại bội Ngũ vị, Cố chỉ để thu lại, đóng lại, gia Mạch môn (sao gạo), Ngũ vị (sao mật). Vong âm, trung tiện luôn (khí là dương, dưới không có âm đóng kín mà thoát ra, cho nên vong dương, cũng gọi là vong âm) gia Thăng ma để đưa lên, Cố chỉ để đóng kín lại.
- Chứng hư bĩ giả đầy trướng, giả tích khối, khử Mẫu đơn, bội quế phụ, gia Ngưu tất, Ngũ vị.
- Chứng hư lâu ngày, đau bụng liên miên gia Ngô thù ,Tiểu hồi
- Thận hư đau sán khí gia Xuyên luyện Quất hạch, Ngô thù, Hoàng bá sao đen, khử Phụ tử.
- Đờm dãi vít lấp, thủy hư thì khử Phụ, hỏa hư thì Thục địa sao khô mà dùng
- Các chứng phát sốt của trẻ em khử Quế Phụ, gia Mạch môn Ngũ vị, có nóng rét gia Sài hồ Bạch Thược, kinh giật gia Quy Thược, Tần giao, Câu đằng. Hư trướng thì dùng Quế chút ít. Các chứng trẻ em hư hàn khử Phụ; quyết lạnh dương thoát lại nên dùng Phụ; nếu hỏa hư kém cả âm huyết hư thì nên dùng Quế khử Phụ
- Trẻ em nhiệt uất đau bụng đi ỉa như rót khử Quế Phụ, giảm Thục địa sao khô bội Trạch tả, gia Thăng ma, khát nhiều gia Mạch Môn, Ngũ vị
- Trẻ em hư nhiệt phát ban khử Quế Phụ, bội Đơn bì, gia Quy Thược
- Đàn bà huyết khô kinh bế người gầy đen, tóc ngắn, tính nóng nẩy, hay đau bụng trước khi hành kinh, khát uống nước luôn, đau lưng, sốt về chiều hầm hập, khử Phụ giảm bớt lượng Quế, Trạch; bội Sơn thù, gia Quy Thược, Đỗ trọng sao rượu
- Đàn bà có chứng Bạch đới thì khử Phụ, bội Trạch tả, có đau mà trệ xuống gia Thăng ma, không thì gia Phá cố chỉ.
Đó là cách dùng tá sứ thỏa đáng thì có thể hợp chung thành một tễ để giúp thêm thành công.
5. Phép dùng thang tống Bát vị hoàn
- Dùng nước muối nhạt làm thang tống, là vì muối nhuận xuống, làm mềm chất rắn, có hư hỏa thì dẫn xuống
- Dùng nước lã đun sôi làm thang tống là vì nó không nhanh không chậm không nóng không ráo
- Dùng nước cơm sôi làm thang tống là vì nó là chân vị điềm đạm của tỳ, rất chóng sinh ra tinh, có ý nhân bổ thận mà bổ tới cả tỳ
- Dùng rượu nóng làm thang vì nó dẫn sức thuốc đi rất nhanh, mùa đông có thể ngăn được hàn tà từ bên ngoài
- Dùng bài Bổ trung làm thang tất vì có chứng nguyên khí hãm xuống, đã muốn bổ nguồn gốc lại sợ thuốc chạy xuống thái quá, trên hư dưới thực, nên phải đưa trung khí lên, để cho nguyên khí ở tam tiêu còn mãi
- Dùng bài Lý trung làm thang, tất vì tỳ vị trầm hàn nên trước phải điều lý trung châu rồi mới thông xuống được.
- Dùng bài Sinh mạch làm thang là vì kim sinh thủy làm cho mẹ con nuôi nhau, khí của phế dồn xuống thận làm vệ khí lại dẫn được xuống hai tạng kim và thủy để sinh âm
- Dùng bài Quy tỳ làm thang là muốn cho tiên thiên thủy hỏa, hậu thiên khí huyết đều được tự nhuận
- Dùng Nhân sâm Trần mễ làm thang là để cho dẫn xuống tỳ thận mà sinh dương khí
Cách dùng thang tống như đã kể trên để chiêu thuốc hoàn đều là vì bệnh cấp không thể để dây dưa, tiêu bản đều phải chiếu cố tới cả, cho nên phải mượn khí mạnh của thuốc sắc để làm công trước mở đường, vận tống thuốc hay của thủy hỏa nạp xuống đan điền, để giữ cho nguyên dương được vững chắc mãi, công dụng của thuốc sắc vừa đi qua thì tính của thuốc hoàn lại nảy sinh tác dụng, từ căn bản cho đến tam tiêu, cứ còn mãi mãi khí dương hòa ý nghĩa rất sâu xa.
6. Sự cấm kỵ của bài Bát vị
- Hoặc có người dùng Hà thủ ô làm đầu vị trong bài này thì một bài thuốc hai đầu vị biết theo bên nào?
- Hoặc có khi phối hợp với Sâm kỳ thì thuốc bổ thận chạy vào âm kinh, thuốc bổ khí chạy về dương phận mà hai bên giằng giữ nhau ko yên được chỗ, lại quấy rối, khích động hư dương bốc lên không gì dẫn về kinh được
- Hoặc có người dùng Táo, Quy, Truật để kiêm chữa cả tâm tỳ. Nào có biết rằng Thục địa bổ tinh huyết càng phải nhờ Sơn thù vị chua, chát để giữ vững lại. Còn như Quy cay mà chạy vào phần dinh là thuốc của phần huyết mà không phải là thuốc của phần tinh, chua thì thu, cay thì tán rất khác nhau xa, huyết với âm tinh đều nên phân biết cho rõ. Vả lại trong bài lục vị, bát vị đều có đủ cả âm dương khiến cho thủy hỏa hun nấu gây thành tinh huyết. Bạch truật có công năng làm cho khô cho ráo, chạy riêng vào tỳ vị, gia vào đó thì lại làm cho hao kém mất sức hun nấu, chân âm còn nhờ vào đâu mà sinh ra được. Còn như Táo nhân là thuốc phần khí của thượng tiêu tâm tỳ, không phải là thuốc thích hợp với tinh huyết ở thận
- Hoặc thêm vị như Câu kỷ, Phúc bồn, Liên nhục….có sức chậm chạp, nếu thêm một vị càng hãm lại một phần, khó kiến hiệu nhanh.
- Hoặc thêm vị Tiên mao tuy có sức mạnh, nhưng bẩm tính không giống nhau thì ở cùng đội ngũ sao được, mỗi bên đều cậy có sức mình, làm rối loạn phép thường.
- Hoặc gia Bào khương, Chích thảo là thứ thuốc chữa trung tiêu, không thể xuống dưới được. Vả lại Thục địa khí nhuận ngọt ấm, là thuốc nhuần bổ chân âm, bỏ lẫn vào thuốc cay nóng, ấm trung tiêu thì chẳng những mất hết tính nhu nhuận, mà vị Thục địa cũng không còn chút sức nào nữa. Cho nên bài Địa hoàng hoàn xưa nay ko ai gia thêm Khung, Quy, Khương, Thảo là vì thế.
BÀI LỤC VỊ
1. Thành phần
Thục địa 8 lạng; Sơn thù 4 Sơn dược 4
Mẫu đơn bì 3; Trạch tả 3; Phục linh 3
Các vị tán nhỏ trộn với Thục địa cho mật ong vào viên bằng hạt ngô đồng mỗi lần uống 70-80viên, với nước muối nhạt, nên uống khi đói lòng, uống xong ăn thức ăn nhẹ để chận lên làm cho thuốc không ở mãi trong dạ dày mà đi thẳng xuống hạ tiêu để tả khí xung nghịch
2.Phân tích BT
Thục địa: Tư âm trấn tinh là quân
Sơn thù: Dưỡng can nhiếp tinh; Sơn dược: Kiện tỳ cố tinh, hai vị là thần
Trạch tả: Thanh tả thận hỏa
Đan bì: Thanh tả can hỏa
Phục linh: Đạm thẩm lợi thấp. Ba vị này là tá và sứ
Ba vị đầu có tác dụng bổ, ba vị sau có tác dụng tả. Bài thuốc vừa bổ âm, giáng hỏa chữa chứng âm hư sinh nội nhiệt
3.Tác dụng
Chữa chứng can thận bất túc, chân âm suy tổn,tinh khô huyết kém. Lưng đau chân nhức, di tinh ỉa ra máu, tiêu khát, lâm lịch bí đái, khí bị vít lấp, đờm dãi, mắt mờ, mắt hoa, tai ù, tai điếc, khô cổ, đau họng với các chứng thận hư phát sốt, đổ mồ hôi, đổ mồ hôi trộm, ỉa ra máu, mất máu, thủy tà dồn lên thành đờm (bệnh lâu ngày, âm hỏa bốc lên, tân dịch sinh đờm mà không sinh huyết nên làm mạnh chân thủy để chế bớt tướng hỏa thì đờm tự nhiên tiêu), thủy hư huyết hư phát sốt , ho hen khát nước (thận hư thì đưa nhiệt lên phổi mà sinh ho hen, ấn mạnh đến xương thì nóng bỏng tay) hoặc thận âm suy tân dịch không giáng xuống được, hư hỏng vẩn đục mà thành đờm, hoặc đến nỗi ho xốc hoặc đầu choáng váng (dâm dục quá độ thận khí không thể trở về nguyên chỗ đó là khí hư mà đầu choáng váng, thổ huyết, băng huyết, rong huyết, can không giữ được huyết đến nỗi huyết chạy càn bậy, đó là chứng huyết hư mà đầu choáng váng).
Lại chữa chứng tiểu tiện không rốn được, thận hư sinh khát, mất tiếng, răng không chắc, đau răng vì hư hỏa, buồn phiền vật vã vì huyết hư, lưỡi khô đau, gót chân đau, các chứng ghẻ lở ở hạ bộ, các chứng hư thũng ở đầu mắt, phàm các bệnh sốt ở trẻ em mà theo loại chứng dương đều chữa được rất tài, nên bảo rằng” làm mạnh chủ thủy để chế bớt dương quang” là thế
4. Công năng bài Luc vị
Bài Lục vị chuyên bổ thận thủy, bài bát vị đã bổ thận thủy lại bổ cả tướng hỏa, người trẻ thủy suy hỏa vượng nên dùng Lục vị, người già thủy hỏa đều suy kém nên dùng Bát vị. Huống chi tuổi già, chân thủy ở thận đã hư, tà hỏa nhân đó lấn vào mà làm hư nhiệt, tiêu khát, tiểu tiện không rốn được lên lịch bí đái, không có Quế phụ để ôn tán liệu có được không. Người ta sợ nóng nhưng không biết thứ hỏa bổ ấy là nguyên khí chân dương. Nguyên khí của chân dương khi đã hồi phục được thì hư hỏa tà âm ế phải tiêu trừ đi, thật là thuốc thánh để chữa chứng thủy tràn lên thành đờm, phương thần để chữa chứng huyết hư phát nóng, duy tư dưỡng phần âm mà hỏa tự nhiên xuống, chứ bất tất phải giáng hỏa. Như vị thục địa tính ấm, đơn bì tính mát, Sơn dược tính săn chắc, Bạch linh tính thẩm thấu, Sơn thù tính thu, Trạch tả tính tả bài thuốc đã bổ thận lại kiêm cả bổ tỳ. Sách “ Bổ ích tỳ vị để bồi bổ cho mẹ của vạn vật: thu tinh khí bị hư hao lại, nuôi khí tư dưỡng thận, chế hỏa lợi thủy, khiến cho bộ máy thông lợi mà tỳ thổ khỏe chắc, thật là có bổ có tả để thành công bình bổ, rõ là phương thuốc hay xưa nay không thay được”
5.Ý nghĩa BT
Đó là phương thuốc thuần âm, vị trọng mà nhuận hạ. Thuần âm là khí của thận, vị trong là chất của thận, nhuận hạ là tính của thận, không dùng bài này thì không thể khiến cho thủy về đúng nguyên chỗ của nó. Trong đó chỉ có thục địa là đầu vị của tạng này còn 5 vị kia dùng để giúp sức. Sơn dược là thuốc âm kim. Quẻ cấn biến trong quẻ khảm, rắn đọng mà sinh kim cho nên vào thủ thái âm làm vinh nhuận da dẻ, thủy phát từ nguồn cao cho nên khơi thủy phải khơi từ núi, vị sơn dược làm cho thái âm thổ bền chắc để làm nguồn của thận thủy, thủy thổ hợp thành mộc khí thẳng xuống dưới rốn, như vậy Sơn thù là thuốc âm mộc, can thận đều ở dưới mượn chất chua chat để thu liễm sự an tràn, thủy hỏa lên xuống tất phải do kim mộc làm đường lối cho nên cùng với sơn dược làm chủ đi xuống bên tả bên hữu để giữ khởi thấm ra, 2 vị ấy không tách rời nhau
Đơn bì là thuốc của Thủ túc quyết âm, thiếu âm đưa được tâm hỏa xuống bàng quang, thủy hỏa sánh đôi, tả tâm bổ thận; lại có thêm vị phục linh thẩm thấp để đưa dương xuống, Trạch tả mặn tiết để đưa âm xuống, nào khơi nào tháo, làm cho nước không chỗ nào không chảy vào bể. Ấy là ý nghĩa mầu nhiệm về chế phương này. Một thuyết nói: “ Trạch Tả tả thủy ở bàng quang mà tai mắt được sáng suốt, sáu kinh đều chữa cả mà chuyên chú công dụng về can thận, không thiên lệch về hàn táo mà bổ được âm, thêm được huyết”. Nếu uống được luôn thì công hiệu khó mà kể cho hết – làm tai tỏ, sáng mắt, ý nói thấm lợi được thấp nhiệt ở hạ tiêu, thấp nhiệt đã hết thì khí trong trẻo đưa dược lên trên cho nên nuôi được 5 tạng, mạnh được âm khí, bổ hư tổn khỏi choáng váng đầu có công năng làm cho tỏ tai sáng mắt, vì vậy cổ phương thường dùng. Người đời nay thường hay ngờ bài này làm cho lòa mắt. Vì uống sai liều lượng, thận thủy lợi quá mà lòa mắt, nếu theo cổ phương phối hợp nhiều ít rất đúng, không thể thêm bớt được.
6.Gia giảm bài lục vị
Thận khí hoàn là bài thuốc bổ thủy vì cho rằng thục địa là thuốc đại bổ tinh huyết nhưng không biết một khi tinh huyết đủ thì chân dương tự nhiên sinh ra, huống chi những vị sơn dược, sơn thù đều làm cố sáp được tinh giữ dược khí; khí là hỏa, hỏa ở trong thủy là chân dương. Bài thuốc này không lạnh không ráo, tính rất bình đạm, rất hay lạ, có gia giảm cũng chỉ nên trong số vài ba bốn vị mà thôi. Ngày nay người ta cứ hay tìm trong bản xem có vị nào bổ thì tùy tiện thêm vào [ không biết rằng] vị đó có bổ nhưng không có tả,[ số lượng] vị khách nhiều hơn vị chủ, thành ra sức thuốc không tập trung, làm cho công dụng bài lục vị bị giảm sút,[ có khi đến mức] không có tác dụng gì nữa. Dùng bài này người đời thường phạm 4 lỗi; không phải là thứ thục của đất hoài khánh thì sức thuốc kém, không được 9 lần chưng, 9 lần phơi thì không chín; ngờ tính nê trệ của thục mà giảm lượng đi làm vị đứng đầu bị kém yếu, cho trach tả chỉ có tính tả mà giảm đi làm cho chức năng của vị “sứ” kém đi.
- Hình thể gầy đen khô khốc thì bội Thục địa, khử Trạch tả, nếu tiểu tiện không thông lợi thì gia Mạch môn, Ngũ vị, nhất thiết cần dùng Trạch tả. Đấy không phải là thủy không lợi mà thực là tinh tự hao kiệt.
- Có chứng sốt âm (sốt về chiều hoặc về đêm hoặc cả ngày đêm nóng hầm hập luôn) thì bội Đơn bì; can hỏa thịnh quá gia Bạch thược (dùng sống), nếu thấy hỏa cháy bốc dữ dội thì gia Tri bá (dùng nước tiểu trẻ em tẩm sao khô); nếu can khí thịnh, can huyết hư, tính nóng vội hay cáu gắt thì giảm Sơn thù, bội đơn bì, gia Bạch thược, Sài hồ
- Tỳ hư kém ăn thì bội Bạch linh, Sơn dược khử Đơn bì
- Huyết hư âm suy bội Thục địa, Sơn thù, gia Lộc nhung
-Thận hư đau lưng mỏi gối thì gia Đỗ trọng, Ngưa tất
- Tinh họat, nhức đầu chóng mặt, tối mắt thì bội thục địa, sơn thù, tinh hoạt quá thì gia phá cố chỉ
- Tiểu tiện hoặc nhiều hoặc ít, hoặc đỏ hoặc trắng thì bội Phục linh, nếu tiểu tiện nhỏ giọt thì bội Phục linh, Trạch tả kèm thấp nhiệt thì gia chi tử, mộc thông,tiểu tiện đi luôn thì khử Trạch tả gia Ích chí( sao muối 3 lạng) cay nóng để sáp tinh giữ vững khí
- Tâm hỏa thịnh và có ứ nhiệt bội đơn bì, gia Mộc thông
- Tỳ vị hư yếu, da dẻ khô sáp bội Sơn dược
- Đàn bà huyết khô kinh bế, gia Quy, Thược, Nhục quế. Tiểu tiện hoặc đỏ hoặc trắng nhiều , ít bội Phục linh
- Các chứng huyết thuộc đại hư của đàn bà cũng nên dùng bài này. Có hư nhiệt thì bội Đơn bì, khô kiệt khử Trạch tả, bội Thục địa, ăn ít thì khử Mẫu đơn bì hàn trệ thì gia Quan quế, đau nhói thì gia Thanh bì, Nhục quế, sữa không thông thì bội Thục địa gia Mộc thông, khử Trạch tả( Trạch tả đã thấm lợi lại tổn thương phần âm mà sữa tức là huyết)
- Các chứng sốt ở trẻ em, bệnh mới mắc hay hư đã lâu, không bệnh nào là không dùng được, thực là thánh dược đối với nhi khoa, nếu hoặc nóng quá thì bội Đơn bì, nóng cực độ thì gia Tri bá, nóng và khát thì gia Mạch môn, Ngũ vị, bội Thục địa
- Bụng hư trướng thì Thục địa sao khô, bội Linh, Trạch, gia Ngũ vị
- Nóng mà mửa thì gia Ngũ vị, Ngưu tất
- Tỳ hư đi tả và kiết lỵ kéo dài thì gia Thỏ ty, phá cố
- Ỉa mửa do nhiệt gia Ngũ vị
- Nóng rét gia Sài hồ, Bạch thược
- Động kinh phát sốt gia Long đởm thảo, Tần giao, Sài hồ, Bạch thược, Mộc hương
- Can nhiệt bội Đơn, Thục
- Đau bụng đi lỏng bội Linh, Trạch, bị lâu ngày gia Phá cố chỉ
- Cam mắt gia Sài hồ, Bạch thược, Bạch tật lê, Cúc hoa
- Cam nhiệt bụng to, bắp thịt róc thì Thục địa sao khô, bội Phục linh, Trạch tả, gia Xa tiền, Ngưu tất
- Nóng biến chứng gia Thăng ma
- Các chứng tiên thiên bất túc như chậm biết đi, chậm mọc răng, chậm mọc tóc, chậm biết nói, thóp hở, nghẽo cổ, gù lưng, dô ngực đều nên gia Lộc nhung, Lộc giác giao, nặng lắm thì gia Tử Hà sa
7.Cách dùng thang tống ( giống bài bát vị)
- Dùng nước muối nhạt làm thang tống là vì muối nhuận xuống làm mềm chất rắn, có hư hỏa thì dẫn xuống
- Dùng nước cơm sôi làm thang tống vì nó là chân vị điềm đạm của tỳ, rất chóng sinh ra tinh, có ý nhân bổ thận mà bổ tới cả tỳ
- Dùng nước lã đun sôi làm thang tống vì nó không nhanh không chậm, không nóng không ráo
- Dùng rượu nóng làm thang vì nó dẫn sức thuốc đi rất nhanh, mùa đông có thể ngăn được hàn tà từ bên ngoài
- Dùng bài Bổ trung làm thang tất vì có chứng nguyên khí hãm xuống, đã muốn bổ nguồn gốc lại sợ thuốc chạy xuống thái quá, trên hư dưới thực nên phải đưa trung khí lên để nguyên khí ở tam tiêu còn mãi
- Dùng bài Lý trung làm thang tất vì tỳ vị trầm hàn nên trước phải điều lý trung châu rồi mới thông xuống được
- Dùng bài Sinh mạch làm thang là vì kim sinh thủy làm cho mẹ con nuôi nhau, khí của phế dồn xuống thận mà làm vệ khí lại dẫn được xuống 2 tạng kim và thủy để sinh âm
- Dùng bài Quy tỳ làm thang là muốn cho tiên thiên thủy hỏa, hậu thiên khí huyết đều được tư nhuận
- Dùng Nhân sâm trần mễ làm thang để cho dẫn xuống tỳ thận mà sinh dương khí.
8 Sự cấm kỵ của bài Lục vị
Phàm hỏa hư, tỳ vị yếu dễ đi ỉa chảy thì không nên dùng nhiều.
- Người chân âm thịnh, béo trắng, thấy có chứng sốt nóng đấy là thổ hư không thể tàng được dương thì cấm dùng.
- Chứng vong dương tuy thấy nóng dữ, ấy là hỏa bốc ra ngoài, nguyên khí thoát thì cấm dùng.
- Đờm ở tỳ phế bít lấp, hoặc đến nỗi phát suyễn nghịch thì cấm dùng.
- Vì thủy thịnh mà phát thũng trướng, tuy có Linh, Tả cũng cấm dùng.
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
LỤC KINH BIỆN CHỨNG
Biện chứng của bệnh sốt thời khí (ôn nhiệt bệnh) nói chung có phân ra 3 loại: Lục kinh biện chứng , Vệ khí doanh huyết biện chứng và Tam tiêu biện chứng. Căn cứ vào chứng mà ta hay gặp trên lâm sàng và những tài liệu gần đây hướng dẫn, khi chẩn trị bệnh truyền nhiễm, thường sử dụng Vệ, khí, doanh, huyết biện chứng, cho nên chúng ta đã giới thiệu điểm phía trên về Vệ khí doanh huyết biện chứng luận trị, ở đây chỉ thuật qua về Lục kinh biện chứng và Tam tiêu biện chứng cung cấp cho người học tham khảo.
A. LỤC KINH BIỆN CHỨNG
Lục kinh bao gồm Thái dương kinh, Dương minh kinh, Thiếu dương kinh, Thái âm kinh, thiếu âm kinh và Quyết âm kinh, vốn nó là tên gọi của kinh lạc, sau đó ngày xưa dùng nó để khái quát 6 giai đoạn biến hóa trong quá trình phát triển của bệnh Thương hàn , thành ra là cương lĩnh của biện chứng luận trị về bệnh Thương hàn.
1. Thái dương chứng :
Bệnh Thái dương chia ra làm 2 loại chủ yếu là “Kinh Chứng ” và “Phủ Chứng ”.
a. Thái dương kinh chứng là bệnh tà xâm phạm cơ biểu, lại chia ra làm 2 loại: “Trúng phong” và “Thương hàn”. Trúng phong là biểu hư, Thương hàn là biểu thực.
- Bệnh Thái dương “Trúng phong”: thấy chứng phát sốt sợ gió, ra mồ hôi, đầu gáy cứng đau, mạch phù hoãn, biểu hư. Chữa thì dùng phép giải cơ phát biểu, lấy Quế chi thang làm phương chủ yếu
Quế chi thang . Điều hòa Dinh vệ, Giải cơ
Quế chi 12g Bạch thược 12 g
Chích thảo 6 g Sinh khương12 g Táo 4 trái
- Bệnh Thái dương “Thương hàn”: thấy chứng sợ lạnh, phát sốt, không có mồ hôi, xương khớp đau đớn, mạch phù khẩn, biểu thực, chữa thì dùng phép phát hãn giải biểu, lấy Ma hoàng thang làm phương chủ yếu.
Ma hoàng thang. Tân ôn giải biểu
Ma hoàng 8g, Hạnh nhân 8g
Quế chi 12g, Cam thảo 8g.
b. Thái dương phủ chứng là nhân biểu tà chưa giải, Truyền vào trong bàng quang gây nên. Có hai chứng hậu là Súc thủy và Súc huyết .
- Chứng Súc Thủy: là Tà khí ở khí phận, nếu thấy chứng phát sốt, sợ gió, tiểu tiện không lợi, nhiều mồ hôi phiền khát muốn uống nước, nhưng uống vào thì nôn mữa , tiểu tiện không lợi, bụng dưới đầy mạch phù sác .
Ngũ linh tán . Hóa khí hành thủy
- Trư linh - Bạch truật
– Trạch tả - Phục linh - Quế chi
-Chứng Súc Huyết : là Tà khí ở huyết phận, biểu hiện lâm sàng bụng dưới quặn đau đầy rắn, phát cuồng, tiểu tiện lợi, đại tiện phân đen.
Đào nhân thừa khí. Hoạt huyết trục ứ
- Đào nhân 12g -Quế chi 8g - Mang tiêu 8g
- Đại hoàng 12g – Chích thảo 8g
2. Dương minh Chứng :
Bệnh Dương minh do Thái dương truyền kinh mà đến, biểu hiện là vị trường thực nhiệt, phân làm 2 loại hình:
a. Dương minh kinh chứng có sốt cao, khát nhiều, ra mồ hôi, mạch hồng đại. Chữa dùng phép Thanh giải lý nhiệt, lấy Cắt căn thang làm phương chủ yếu.
Cắt căn thang
-Cắt căn -Ma hoàng -Quế chi -Bạch thược
-Sinh cương -Đại táo -Cam thảo
b. Dương minh phủ chứng có sốt về chiều, ra mồ hôi, bụng đầy mà cứng, đại tiện bí kết, nói nhảm, thần mờ tối, lần áo sờ giường, mạch trầm thực. Chữa dùng phép thông phủ tả nhiệt, lấy bạch hổ thang làm phương chủ yếu .
Bạch hổ thang
- Tri mẫu - Cánh mễ
– Thạch cao - Cam thảo
Tùy thể bệnh có thể sử dụng các thang: Đại Thừa khí, Tiểu thừa khí và Điều vị thừa khí.
3. Thiếu dương chứng: ( bán biểu bán lý )
Bệnh thiếu dương lấy chứng trạng chủ yếu là nóng rét qua lại (hàn nhiệt vãng lai), ngực sườn đầy tức, tâm phiền, hay nôn, miệng đắng họng khô, mắt hoa, rêu lưỡi trắng, mạch huyền. Bệnh ở khoảng giữa Thái dương và Dương minh, gọi là chứng đàm nhiệt bán biểu bán lý. Chữa dùng phép hòa giải biểu lý, lấy Tiểu sài hồ thang làm phương chủ yếu.
Tiểu sài hồ thang
Sài hồ huỳnh cầm nhân sâm
Bán hạ Cam thảo Đại táo
4. Thái âm chứng :
Bệnh Thái âm thường thấy từ 3 kinh dương chuyển biến mà đến, cũng có trường hợp ngoại tà trúng thẳng vào Thái âm. Ngoại tà vào lý hóa làm hàn thấp, thấy chứng tứ chi mệt mỏi, cơ bắp đau ê ẩm, bụng trên trướng đầy, không nghĩ đến ăn uống, đại tiện ra lỏng, miệng không khát, lưỡi nhạt rêu trắng, mạch hoãn, bệnh Thái âm là tỳ hư hàn thấp. Chữa dùng phép ôn trung tán hàn, lấy Lý trung thang làm phương chủ yếu.
Lý Trung Thang
Nhân sâm can khương chích thảo bạch truật
Hoặc cỏ thể sử dụng Tứ nghịch thang
Cam thảo, Can khương Phụ tử
5. Thiếu âm chứng :
Bệnh Thiếu âm là do các kinh khác chuyển đến, cũng có trường hợp trúng thẳng vào, là giai đoạn tâm thận hư suy nghiêm trọng. Chứng trạng chủ yếu là không sốt mà sợ lạnh, mạch vi tế, nhưng muốn nằm ra giường (muốn ngủ không ngủ được, tựa như ngủ mà không ngủ), tứ chi quyết lạnh, tiểu tiện trong mà dài. Biểu hiện lý hư hàn chứng
Chia ra làm hai thể bệnh
a. Hàn hóa Sốt nhưng lại ớn lạnh, ẩu thổ, khát muốn uống nóng, nhưng không uống nhiều, tiểu trong nhiều, chân tay móp lạnh co quắp (dương hư, hư hàn có khi có giả nhiệt) chỉ muốn ngũ. Pháp trị phù dương ôn bổ;
Thang Ma hoàng phụ tử tế tân
Ma hoàng phụ tử tế tân
b. Nhiệt hóa ( biến chứng từ thiếu âm) tiêu chảy . khát nước tâm phiền ngực đây, nằm không yên, đau họng , mọc mụt trong cổ họng ( âm hư) pháp trị dưỡng âm thanh nhiệt dung thang huỳnh liên a giao:
Huỳnh Liên A Giao thang
Huỳnh liên huỳnh cấm, bạch thược kê tử hoàng a giao
6. Quyết âm chứng
Bệnh Quyết âm là giai đoạn cuối của bệnh thương hàn , giai đoạn cuối của chính tà đấu tranh nhau,giai đoạn phức tạp và nguy hiểm Chính khí không vững, âm dương không điều hòa. Chứng trạng chủ yếu là tứ chi quyết lạnh, nóng rét giao lẫn nhau, dưới thì đi lị, trên thì nôn ra tanh, miệng khát họng khô, mửa ra giun, bệnh ở Can và Tâm bào là chủ yếu, chứng hậu của bệnh tình rất là phức tạp, chữa phải cùng dùng ôn và thanh
Có 4 loai bệnh cách:
a. Thượng nhiệt hạ hàn.
Tiêu khát uông nước nhiều, khí xông lên ngực, vùng ngực đau nóng, (Thượng nhiệt) đói mà không muốn ăn , ăn vào thì nôn lãi , nếu công nhiều thì tiêu không cầm lại được. (Hạ hàn hư hàn ở trung và hạ tiêu)
b. Quyết nhiệt thắng phục
Quyết thắng nhiệt hoặc quyết nghịch không khỏi là bệnh đang tiến triển tiên lượng xấu
Nhiệt thắng quyết hoặc quyết khỏi rồi nhiệt là chính khí đang hồi phục tiên lượng tốt, bệnh sắp khỏi .
c. Quyết nghịch: Tay chân lạnh giá.
Hàn huyết Đổ mồ hôi nhiều, sốt không lui, bên trong co thắt , tay chân đau nhức.
Nhiệt quyết Phần lý nhiệt, mạch đi hoạt.
Hồi quyết ăn vào nôn ra khó chịu, nôn ra lãi, mạch vi.
Tạng quyết Người vật vã không yên da lạnh , mạch vi
d. Tiêu chảy nôn mữa
Tiếu chảy Thấp nhiệt có mót rặn,
Thực nhiệt phân dính lại, thức ăn đình trệ, nói sảng Hư hàn tiêu lợn cợn phân nhiều nước .
e. Trong quyết âm chứng hai loại bệnh cảnh chính là Thượng nhiệt hạ hàn và Quyết nhiệt thắng phục Tủy chứng mà trị liệu. Nhiệt thì thanh, haj hàn thì ôn bổ, hàn nhiệt lẫn lộn thì phối hợp phép cứu, quyết lãnh thì hồi dương cứu nghịch bảo tồn âm dịch. Phương thuốc chính là ô mai hoàn Ô mai hoàn. Gia giảm
Ô mai hoàn.
Ô mai Tế Tân Can khương huỳnh liên Đương Qui
Phụ Tử Thục Tiêu Quế chi Nhân sâm Huỳnh bá
Quy luật truyền biến nói chung của bệnh thương hàn: Dương kinh thường bắt đầu từ Thái dương, sau đó mới chuyển đến Dương minh hoặc Thiếu dương. Nếu chính khí bất túc, cũng có thể chuyển vào âm kinh. Âm kinh thường bắt đầu từ Thái âm, sau đó chuyển vào Thiếu âm, Quyết âm. Nhưng bệnh đã có thể phát ở dương, cũng có thể phát ở âm; đã có thể thuận kinh mà chuyển, cũng có thể vượt kinh mà chuyển (như bệnh Thái dương có thể chuyển vào Thái âm). Có thể 2 kinh hợp bệnh (như Thái dương, Dương minh hợp bệnh), hoặc cũng có đồng bệnh (như Thái dương, Thiếu dương đồng bệnh).
TAM TIÊU BIỆN CHỨNG
Tam tiêu biện chứng là mượn tên Tam tiêu để khái quát 3 loại hình chứng trong quá trình phát triển của bệnh sốt thời khí (ôn nhiệt bệnh).
Bộ vị của Tam Tiêu:
– Thượng tiêu: từ miệng tới tâm vỵ, chi phối vùng ngực, cách mạc bao gồm Tâm Phế
– Trung tiêu : Từ tâm vị đến môn vị , Bao gồm tỳ vỵ
– Hạ tiêu: từ môn vị đến hậu môn Bao gồm Can, Thận, Đại Trường, Tiểu Trường.
Sinh Lý Tam Tiêu
- Khí của tam tiêu như sương móc tưới bón khắp châu thân
– Công năng của trung tiêu là vận hóa tiếp thu tinh ba thức ăn uống theo khí chu lưu dinh dướng toàn thân (chủ về vận hóa)
– Công năng của hạ tiêu là bài tiết cặn bả (chủ về truyền tống, chủ việc bài tiết)
Bệnh lý Tam Tiêu
1. Chứng của thượng tiêu
Bao quát chứng trạng của bệnh phế và tâm bào, chủ về vệ ngoại Nếu bất thông thì bì phu vít chặt tấu lý bế tắc, cơ khí không thông, vệ khí không tỏa ra được.
Phế chứng: phát sốt sợ lạnh, ho hắng, đỏ mồ hôi khát, lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng, khí suyễn, mạch phù,
Tâm bào chứng : thì thấy thần mờ tối, nói nhảm, lưỡi cứng, chi lạnh lưỡi đỏ thẩm quyết lãnh .
2. Chứng của trung tiêu
Bao quát chứng của bệnh ở vị, và tỳ, chủ vận hóa Thực thì sinh nhiệt làm bế tắc không thông . Hư thị sinh hàn làm đau bụng tiêu chảy , thượng ẩu hạ tả.
Vị chứng : Phát sốt không sợ lạnh sốt âm triều nhiệt, mặt mắt đỏ, tiếng nói nặng đục, thở to , tiểu tiện bế vít, bụng đầy , rêu lưỡi vàng khô mạch sác ( chủ táo thuộc thực)
Tỳ Chứng ; Sốt nóng vừa, bụng đầy, mình nặng rêu lưỡi trơn nhầy, tiêu lõng, muốn mữa, mạch hoãn ( chủ thấp thuôc hư)
3. Chứng của hạ tiêu. Bao quát chứng trạng của bệnh can, thận, Nếu thực thì đại tiểu tiện không thông. Khí nghịch trên dưới nối tiếp nhau không được sinh ụa mữa không cầm được. Nếu hư thì tiêu chảy không cầm , tân dịch tuyệt.
Thận chứng: Mặt đỏ minh nóng long bàn tay chân nóng, miệng lưỡi khô răng đen, môi nứt , tiểu ngắn, đỏ và gắt, tâm phiền mất ngũ không nằm được.
Can chứng : Tay chân lạnh, co giật tinh thần mệt mõi, hồi hộp, bứt rứt.
VỆ, KHÍ, DOANH, HUYẾT BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Vệ, Khí, Doanh, Huyết vốn là một bộ phận công năng kết cấu bình thường của cơ thể con người, nhưng sau khi mắc bệnh sốt thì vệ khí doanh huyết đều cùng phát sinh những cải biến tương ứng với bệnh lý, theo một quy hoạch nhất định. Bởi vậy, người ta dùng Vệ, khí, doanh, huyết khái quát thay cho những loại hình chứng ở 4 giai đoạn khác nhau của bệnh sốt thời khí.
Nó chỉ ra mức độ nông sâu, tình trạng nặng nhẹ của bệnh. mức tiến thoái trong quá trình phát triển bệnh sốt thời khí, và cách chữa bệnh sốt thời khí cũng dựa vào đó. Vì thế, giảng về hàm nghĩa của vệ, khí, doanh, huyết ở đây với hàm nghĩa của vệ, khí, doanh, huyết trên sinh Lý có khác nhau.
A. Biện chứng luận trị của Vệ, khí, doanh, huyết :
1. Biện chứng nơi có bệnh biến:
Phần vệ của bệnh sốt thời khí tương đương với phần biểu của bát cương biện chứng; bệnh phần khí, doanh, huyết tương đương với lý chứng của bát cương biện chứng. Bệnh phần vệ thường xâm phạm phế vệ, tứ chi, đầu mặt, hầu họng; bệnh phần khí thường xâm phạm phế, tỳ, vị, đại trường, đảm; bệnh phần doanh thường xâm phạm tâm và can; bệnh phần huyết thường xâm phạm tâm, can, thận.
2. Phần chia trình độ và giai đoạn bệnh:
Bệnh sốt thời khí được đem chia ra làm 4 giai đoạn: Vệ, Khí, Doanh, Huyết.
- Đặc trưng của bệnh phần vệ là phát sốt, sợ lạnh, đau đầu, rêu lưỡi trắng, mỏng, mạch phù hoặc sác.
- Đặc trưng của bệnh phần khí là sốt cao, không sợ lạnh, ra mồ hôi, miệng khát, đòi
uống, lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng, mạch hồng, sác, hoặc trầm, thực.
- Đặc trưng của bệnh phần doanh là sốt về đêm nhiệt độ càng cao, bứt rứt, thần chí
nửa mê chìm, nói mê, miệng không khát lắm, hoặc ở da có nốt ban chìm, lưỡi đỏ tía,
không rêu hoặc ít rêu, mạch tế, sác.
- Đặc trưng của bệnh phần huyết là trên cơ sở đặc trưng bệnh ở phần doanh lại thấy thần chí không rõ ràng hoặc múa may lung tung, phát cuồng, da dẻ nổi rõ ban chẩn, có khi thấy thổ huyết, đại tiểu tiện ra máu, đó là chứng của huyết, lưỡi đỏ thẫm hoặc tím, không rêu, mạch trầm, tế, sác.
3. Nhận thức quy hoạch chuyển biến
Phát sinh bệnh sốt thời khí thường bắt đầu từ phần vệ, sau đó chuyển dần sang phần khí, phần doanh, rồi phần huyết. Tức là từ biểu sang lý, từ nhẹ đến nặng. Đây là chuyển biến tuần tự theo lẽ bình thường. Có khi bệnh xuất hiện không tuần tự như thế, mà lại phát sinh ngay ở phần khí, phần doanh, thậm chí ngay ở phần huyết mà ra, đó là do tà phục ở trong phát ra (phục tà nội phát). Hoặc bệnh từ phần vệ trực tiếp chuyển thẳng sang phần doanh, phần huyết, mà bệnh vẫn còn ở phần vệ, phần khí, tức là vệ khí, doanh, huyết đồng bệnh (bệnh cùng một lúc). Nói chung các loại như thế đều lấy sức đề kháng của cơ thể làm quyết định, phản ứng với tính chất của bệnh tà, có khi không có quan hệ gì với việc chữa chạy và chăm sóc.
4. Xác định phương pháp chữa
Bệnh phần vệ, nên giải biểu, bệnh phần khí nên thanh khí (làm cho khí mát, sạch), bệnh phần doanh nên thanh doanh (làm cho doanh khí mát, sạch), bệnh phần huyết nên lương huyết, giải độc (làm mát huyết, làm cho máu hết chất độc).
B. Biện chứng trị liệu các giai đoạn của bệnh sốt thời khí (vệ, khí, doanh, huyết)
1. Bệnh phần Vệ
Bệnh phần vệ là giai đoạn đầu của bệnh sốt thời khí, đặc trưng của nó là phát sốt, sợ
lạnh, đau đầu, đau mình, rêu lưỡi mỏng trắng, mạch phù. Do bệnh phát ở lúc giao các
mùa (tiết, quý cuối xuân đầu hạ, cuối hạ đầu thu, cuối thu đầu đông, cuối đông đầu xuân), do tính chất bệnh tà và phản ứng của mỗi cơ thể có khác nhau, nên bệnh ở phần vệ chia ra làm 5 loại hình như sau:
a. Phong ôn biểu chứng
Chủ chứng: Có đặc trưng của bệnh ở phần vệ nhưng phát sốt nặng, sợ gió nhẹ, kèm có tắc mũi, chảy nước mũi, ho, miệng hơi khát, ven đầu lưỡi hồng, mạch phù sác.
Bệnh lý: Chứng bệnh hay phát ở 2 mùa đông, xuân, do ôn phong (gió ấm) ngoại tà xâm phạm vào phế vệ mà phát bệnh. Ôn tà thuộc nhiệt làm cho phát sốt rất nặng, ven đầu lưỡi hồng, mạch sác. Nhiệt tà thương tân dịch, làm miệng khát, tương đương với biểu nhiệt trong bát cương biện chứng.
Phép chữa: Tân lương giải biểu, thường dùng Ngân kiều tán.
Gia giảm:
- Sợ lạnh nhẹ (ít) thì dùng ít ở các vị Kinh giới, Đạm đậu xị.
- Phát sốt nặng thì dùng nhiều thêm ở các vị Kim ngân hoa, Liên kiều.
- Miệng khát, dùng thêm Thiên hoa phấn.
- Ho rõ rệt, thêm Khổ hạnh nhân, hoặc đổi dùng Tang cúc ẩm.
- Chảy máu mũi, ho ra máu là nhiệt làm tổn thương huyết lạc, phế lạc, thì bỏ Kinh giới,
Đạm đậu xị, gia Mao căn, Sơn chi tử, Thiến thảo căn.
- Đau họng sưng cổ, trước và sau tai sưng là kiêm ôn độc, dùng Mã bột, Huyền sâm,
Bản lam căn.
- Ngực cách tức, buồn bằn là có nội thấp, gia Hoắc hương, Uất kim.
- Nếu thấy có nốt ban đỏ ở da, phát sốt cao, thì bỏ Kinh giới, Đạm đậu xị, Bạc hà,
thêm Sinh địa, Đại thanh diệp.
Thời kỳ đầu các bệnh cảm cúm, cảm mạo, viêm kết mạc cấp, viêm a-mi-đan cấp tính,
viêm phế quản cấp tính, viêm quai bị do dịch, viêm màng não cấp, biểu hiện có phong ôn biểu chứng, có thể theo phép này mà chữa.
b. Thử ôn biểu chứng
Chủ chứng: Có đặc trưng của bệnh ở phần vệ, nặng mình khó chịu ở bụng trên, không có hoặc có ít mồ hôi, rêu lưỡi trắng trơn, chất lưỡi hồng, mạch nhu, sác.
Bệnh lý: Chứng này thường phát sinh vào mùa hạ, ngày hạ nóng nực, bị say nắng, khi uống nước mát lạnh, ngồi đón gió mát, làm cho cái nóng bị hàn thấp lấn át mà thành bệnh. Hàn uất ở cơ biểu thì sợ lạnh, không có mồ hôi; thử là hoả tả, làm phát sốt mà mạch nhanh (sác); thử thương tân dịch, chất lưỡi hơi hồng, thử hay kiêm thấp, làm nặng mình, đau bụng trên, mạch nhu.
Phép chữa: Giải biểu, thanh thử, thường dùng Tân gia hương nhu ẩm.
Thời kỳ đầu các bệnh cảm cúm, cảm mạo, viêm não Nhật bản có biểu hiện của chứng
này, theo phép này mà chữa.
c. Thấp ôn biểu chứng
Chủ chứng: Có đặc trưng của bệnh phần vệ, kiêm có thấy đầu trướng nặng, chân tay nặng nề, khớp xương đau buốt, rêu lưỡi trắng trơn, mạch hoãn.
Bệnh lý: Chứng này thường phát về mùa mưa, do thấp nhiệt tà xâm phạm phần vệ mà thành bệnh, tính của thấp là nặng, dính trệ, cho nên thấy đầu trướng, mình mẩy nặng nề, rêu lưỡi trắng trơn.
Phép chữa: Giải biểu hoá thấp, thường dùng Tam nhân thang gia Hoắc hương, Bội lan.
Thời kỳ đầu của các bệnh thương hàn ruột, viêm gan lây lan, bệnh xoắn trùng vùng da, viêm nhiễm hệ tiết niệu, cảm cúm, cảm mạo, có biểu hiện thấp ôn biểu chứng, có thể theo phép này biện chứng trị liệu.
d. Thu táo biểu chứng
Chủ chứng: Có đặc trưng của bệnh ở phần vệ, kiêm có ho khan, miệng khô, họng khô, mũi khô, rêu lưỡi trắng mỏng mà khô, mạch phù mà tế.
Bệnh lý: Chứng này thường phát ở mùa thu, do táo tà xâm nhập vào phế vệ mà phát
bệnh. Táo tà rất dễ thương phế, thương tân, cho nên thấy ho khan, miệng khô, họng khô, mũi khô. Thu táo trong đó thấy sợ lạnh rất nặng, mạch phù mà khẩn, thì gọi là “lương táo”; phát sốt rất nặng, miệng khát, mạch phù mà sác, gọi là “ôn táo”.
Phép chữa:
- Lương táo, nên tán hàn giải biểu, tuyên phế nhuận táo, thường dùng Hạnh tô tán.
- Ôn táo, nên tân lương giải biểu (dùng vị cay mát giải biểu), tuyên phế nhuận táo,
thường dùng Tang hạnh thang.
- Lương táo, ôn táo chuyển vào khí phần, đều có thể hoá làm táo nhiệt, chữa thì nên
thanh phế nhuận táo, thường dùng Thanh táo cứu phế thang.
- Thời kỳ đầu của các bệnh cảm cúm, cảm mạo, bại liệt trẻ em, bạch hầu, có biểu hiện
chứng trạng đúng như thế này, có thể theo phép này mà chữa.
đ. Phong hàn biểu chứng
Chứng này tương đương với biểu hàn chứng trong bát cương biện chứng, cũng là bệnh
“Thái dương” trong lục kinh biện chứng. Thường phát vào lúc mùa đông lạnh lẽo, do tà khí của phong hàn xâm lấn vào vệ biểu gây nên.
Phép chữa: Nên tân ôn giải biểu
Biểu hàn thực chứng dùng Ma hoàng thang hoặc Kinh phòng giải biểu thang.
Biểu hàn hư chứng dùng Quế chi thang để điều hoà vệ biểu.
Bệnh cảm cúm, cảm mạo mà thấy xuất hiện chứng trạng biểu hàn, đều có thể theo phép này mà chữa.
e. Trong 5 loại hình kể trên :thường thấy là phong ôn biểu chứng, rêu lưỡi từ trắng
chuyển sang vàng, là tiêu chí chủ yếu của bệnh từ vệ phần chuyển vào khí phần. Thử ôn biểu chứng (không hiệp với hàn tà) chuyển biến rất nhanh, cho nên bệnh ở vệ phần thường thường rất ngắn thời gian; thứ đó là phong ôn, thấp ôn, thu táo; chuyển biến rất chậm là phong hàn biểu chứng.
2. Bệnh phần khí
Bệnh phần khí là giai đoạn 2 của bệnh sốt thời khí. Đặc trưng của nó là sốt rất cao, không có sợ lạnh, miệng khát, lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng, mạch sác. Bệnh tà xâm nhập vào khí phần, tà khí thịnh mà chính khí cũng thịnh, khí hữu dư sẽ là hoả, cho nên xuất hiện chứng nhiệt ở khí phần. Trừ thấp ôn ra, các loại bệnh hình ở phần vệ, sau khi chuyển vào phần khí đều hoá làm nhiệt chứng ở khí phần, có thể không phải phân chia ra phong, hàn, hương, táo.
Bệnh ở khí phần, trên lâm sàng thường thấy 6 loại hình:
a. Khí phần nhiệt thịnh (nhiệt tại khí phần)
Chủ chứng: Có đủ đặc trưng của bệnh ở khí phần, kiêm có xuất hiện sốt cao, khát nhiều, mồ hôi nhiều, mạch hồng, đại, rêu lưỡi vàng khô, mặt đỏ, có người bệnh có nói nhảm lung tung và co quắp.
Bệnh lý: Chứng này là khí phần nhiệt thịnh, cho nên sốt cao mà mặt đỏ, nhiệt ở lý có tân thì ra nhiều mồ hôi. Sốt cao ra nhiều mồ hôi thì rất khát, lưỡi vàng khô. Nhiệt nhiễu ở tâm thần thì nói mê nhảm, nhiệt cực sinh phong thì co quắp (sốt cao co giật).
Phép chữa: Thanh nhiệt sinh tân, thường dùng Bạch hổ thang.
Gia giảm:
- Nếu có kèm tức ngực nặng mình, khát nhưng uống không nhiều, rêu lưỡi trơn là
kiêm có thấp trọc, phải dùng thêm những vị thuốc thơm tho hoá thấp như Bội lan,
Hoắc hương. Có nói nhảm thì thêm vào Liên kiều, Mạch đông, lá tre non cuộn trong
nõn. Có co quắp thì thêm vào Địa long, Câu đằng.
- Nếu tà nhiệt đại thịnh, mồ hôi ra nhiều, mà thấy miệng khát, mạch hồng đại mà vô
lực là nhiệt thương tâm khí, có thể dùng những vị thuốc ích khí sinh tân như Tây
dương sâm, Hài nhi sâm, hoặc đổi dùng Vương thị thanh thử ích khí thang.
Bệnh cảm cúm, viêm não Nhật bản B thường xuất hiện chứng này, có thể theo phép này mà chữa.
b. Đàm nhiệt trở phế (đàm nhiệt vây ở phế)
Chủ chứng: Có đủ đặc trưng bệnh ở khí phần, kiêm thấy ho hắng, đau ngực, đờm vàng đặc, khí suyễn, mạch hoạt, sác.
Bệnh lý: Chứng này là tà nhiệt thương phế, nung đốt tân dịch mà thành đờm vàng. Đàm nhiệt vướng ở phế, phế mất tuyên giáng (mất sự thông xuống) thì ho hen đau ngực.
Phép chữa: Thanh phế tiết nhiệt, hoá đàm bình suyễn. Thường dùng Ma hạnh thạch cam thang gia Ngưu bàng tử, Đông qua nhân, Liên kiều, Hoàng cầm.
Gia giảm: Miệng khát, gia Lô căn, Thiên hoa phấn, tiện bí bụng trướng thì gia Đại hoàng, Qua lâu nhân.
Bệnh viêm phế quản cấp tính, viêm lá phổi, có biểu hiện chứng này có thể theo phép này mà chữa.
c. Vị thường thực nhiệt (nhiệt tại trường vị)
Chủ chứng: Sốt cao hoặc sốt về chiều, đại tiện bế kết hoặc ỉa chảy vàng, hôi, nước lỏng, vùng bụng trướng đầy, bụng đau sợ sờ, phiền thao (chân tay vật vã) nói mê nhảm, chân tay nhiều mồ hôi, chất lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng khô, hoặc đen như than đâm nhọn lên,
mạch trầm, sác, hữu lực.
Bệnh lý: Chứng này là tà nhiệt vào lý cùng kết với tích trệ mà thành vị trường thực nhiệt.
Lý nhiệt thịnh thì tân dịch thương, sẽ sốt cao hoặc sốt về chiều, chân tay nhiều mồ hôi, lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng khô hoặc đen như than mà nhọn gai lên. Nhiệt nhiễu tâm thần thì nói nhảm; táo, phân kết lại ở trong ruột, thì vùng bụng trướng tức, bụng đau mà sợ sờ nắn, hoặc đại tiện bí kết, hoặc ỉa chảy nước lỏng vàng hôi.
Phép chữa: Tả hạ hết nhiệt, thường dung Đại thừa khí thang.
Gia giảm:
- Bụng trướng đau rất nặng, thêm dùng lượng nhiều ở vị Chỉ thực, Hậu phác.
- Đại tiện táo kết, thêm lượng dùng nhiều ở vị Đại hoàng, Mang tiêu.
- Miệng khô lưỡi táo nặng, thêm Sinh địa hoàng, Mạch đông.
Nói chung uống 1 – 2 thang, đạt được đi ỉa rồi, sẽ cải biến phép chữa theo chứng mà
dùng thuốc.
Thời kỳ giữa và thời kỳ cực thịnh của cảm cúm, viêm não Nhật bản B nếu thấy xuất hiện chứng này, có thể theo phép này mà chữa.
d. Khí phần thấp ôn (lý nhiệt hiệp thấp, thấp nhiệt nội uất)
Chủ chứng: Có đủ đặc trưng bệnh ở khí phần, kiêm có mình nặng, ngực tức, bứt rứt, vùng bụng trướng đầy, khát không muốn uống, tinh thần nhạt nhẽo, lạnh lẽo, nặng tai, tiểu tiện ngắn mà rít, đại tiện không sướng, lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng trắng dày trơn, mạch huyền, hoãn. Có thể có kèm ỉa chảy hoặc da phát vàng, nốt chẩn hồng, bạch ám, hoặc xuất hiện thần mờ tối, nói nhảm mê.
Bệnh lý: Chứng này do thấp nhiệt vướng trệ ở khí phần gây ra, Bạch ám là nốt chẩn mồ hôi, là những hạt nhỏ xuất hiện trên mặt da như những nốt rôm trắng mà trong suốt, do thấp nhiệt uất ở trong, mồ hôi ra không thông mà sinh ra, thường xuất hiện ở da vùng gáy cổ, ngực bụng, phán đoán tiên lượng thì bạch ám lấy bọc nước no đầy sáng sủa là thuận, khô khan mà tối như than là nghịch. Thần mờ tối nói nhảm mà lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng trắng dày trơn là thấp nhiệt hiệp với đàm trọc, che mờ tâm khiếu gây ra, nó khác với hôn mê do nhiệt nhập tâm bào.
Phép chữa: Thanh khí, hoá thấp, thường dùng Cam lộ tiêu độc ẩm.
Gia giảm:
- Nếu có sốt to, miệng khát, là nhiệt nhiều thấp ít, có thể thêm Thạch cao, Tri mẫu.
- Nếu phát sốt không cao, miệng không khát, là thấp nhiều nhiệt ít, có thể thêm Bội
lan, Bạch khấu nhân.
- Nếu vàng da, có thể thêm Nhân trần, Kê cốt thảo, Điền cơ hoàng.
- Lị tật có thể dùng đổi bằng Cát căn cầm liên thang.
- Có thần mờ tối, nói mê nhảm, có thể đổi dùng Xương bồ uất kim thang (Thạch
xương bồ, Uất kim, Sao Sơn chi, Liên kiều, Cúc hoa, Hoạt thạch, Đan bì, Đạm trúc
diệp, Ngưu bàng tử, Trúc lịch, Sinh khương trấp, Ngọc khu đan), để thanh nhiệt, hoá
thấp, trừ đờm khai khiếu.
Bệnh thấp ôn rất kéo dài, bệnh tình phức tạp, chứng đàm cũng rất nhiều, thấp là âm tà,
tính của nó dính vướng, dễ Thương dương khí, khi chữa nói chung không thể dùng quá vị thuốc hàn lương hoặc dùng lầm vị thuốc bổ béo.
Bệnh thương hàn ruột, bệnh xoắn trùng vàng da, viêm gan lây lan, khuẩn lỵ cấp tính, có biểu hiện chứng thấp ôn ở khí phần có thể theo phép này mà chữa.
C. Tóm tắt vệ khí doanh huyết biện chứng luận trị
Bài này giới thiệu lý luận biện chứng trị liệu bệnh sốt thời khí (ôn nhiệt bệnh) với 4 yếu điểm vệ, khí, doanh, huyết, và phương pháp biện chứng trị liệu của 4 giai đoạn bệnh sốt thời khí. Về mặt biện chứng, thiệt chẩn chiếm địa vị trọng yếu. Xem biến hóa rêu lưỡi có thể phân riêng ra vùng bệnh ở vệ phần hoặc khí phần, đồng thời có thể lấy để phán đoán tân dịch còn hay mất. Xem biến hóa chất lưỡi có thể phân riêng ra bệnh tại doanh phần hoặc huyết phần, đồng thời có thể biện rõ âm dịch thịnh hay suy. Đối với bệnh sốt thời khí, trong các giai đoạn khác nhau có xuất hiện chứng trạng như phát sốt, miệng khát, ra mồ hôi, ban chẩn, bạch ám, hôn mê, co quắp… khi học tập cần tiến hành so sánh phân biệt biết được những đặc điểm riêng khác nhau của nó, sẽ có giúp đỡ rất nhiều cho chẩn đoán. Nắm lấy mặt phát sốt mà nói, có phát sốt mà sợ lạnh,
phát sốt đêm nặng hơn, sốt nóng lòng bàn chân bàn tay, đêm sốt sớm mát là nhiều loại hình sốt khác nhau. Loại hình sốt khác nhau thì chẩn đoán bệnh chứng và trị liệu cũng khác nhau.
Cần kết hợp Tây y để xử trí.
Về mặt trị liệu, cần chú ý đến đặc trưng “nhiệt hóa” là đặc trưng chung của bệnh sốt thời khí.
Ngoài phong hàn biểu chứng và chứng vong dương ra, bệnh đó nhất loạt cấm dùng vị thuốc tân, ôn, nhiệt. Nhiệt tà dễ thương âm, lúc chữa tất cần bảo họ âm dịch từng giờ, từng phút.
Thấp tà dễ thương dương khí, trị bệnh có thấp rõ ràng, không thể dùng quá mức loại thuốc khổ, hàn (đắng, lạnh) và không thể dùng nhầm thuốc béo bổ.
Nay đem các yếu điểm biện chứng luận trị về vệ, khí, doanh, huyết quy nạp lại thành bảng nhưsau, (bảng 23).
Bảng 23: Bảng yếu điểm biện chứng luận trị về vệ khí doanh huyết trong bệnh sốt thời khí (ôn nhiệt bệnh)
Bệnh phần vệ Bệnh phần khí Bệnh phần doanh Bệnh phần huyết Bát cương biện chứng
Biểu Lý Lý Lý
Nơi có bệnh biến Phế vệ, tứ chi đầu mặt, mũi họng Phế, tỳ, vị, đại trường, đảm Tâm, can Tâm, can, thận
Chủ chứng Rêu lưỡi trắng, mạch phù, phát sốt sợ lạnh, đầu đau, mình đau, mũi tắc, ho hắng, chứng trạng phế vệ Lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng, mạch hồng sác, hoặc mạch trầm thực,phát sốt không sợ lạnh, tiện bí, vàng da, ho hắng, là chứng của lục phủ và phế, tỳ.
Lưỡi đỏ tía, ít rêu hoặc không rêu, mạch trầm tế sác, phát sốt về đêm nặng dữ, ban chẩn ẩn hiện, thần trí nửa hôn trầm, nói nhảm, hoặc co quắp là chứng trạng của tâm, can.
Lưỡi tía tím, không rêu, mạch tế sác, phát sốt về đêm nặng dữ, ban chẩn rõ rệt, thần mờ mệt, co quắp, các loại xuất huyết, chứng trạng của chân âm hao tổn.
Phép chữa Giải biểu thanh nhiệt, tuyên phế
Thanh khí hóa thấp, tả hạ, hòa giải, sinh tân.
Thanh doanh khái khiếu, tức phong.
Lương huyết chỉ huyết, tư âm, tức phong.
Phương tễ thường dùng
Ngân kiều tán, Tang cúc ẩm, Tân gia hương nhu ẩm, Tam nhân thang gia vị, Hạnh tô tán, Tang hạnh thang, Ma hoàng thang, Quế chi thang Bạch hổ thang, Ma hạnh thạch cam thang, Đại thừa khí thang,Đại, tiểu sài hồ thang, Cam lộ tiêu độc ẩm.Thanh doanhnthang, An cung ngưu hoàng hoàn,bChí bảo đan, Tử tuyết đan, Chỉ kinh tán. Tê giác địa hoàng thang. Thanh ôn bại độc tán, Gia giảm Phục mạch thang, Thanh cao miết giáp thang,Tam giáp phục mạch thang.
D. Các bài thuốc dùng trong ôn nhiệt bệnh
1. Bệnh phần Vệ
a. Ngân kiều tán
Ngân hoa 1 lạng, Liên kiều 1 lạng,
Đậu xị 5 đồng cân, Ngưu bàng tử 6 đồng cân,
Kinh giới 4 đồng cân, Bạc hà 6 đồng cân,
Cát cánh 6 đồng cân, Sinh cam thảo 5 đồng cân,
Trúc diệp 4 đồng cân.
Mỗi lần uống 6 đồng cân, gia vào 2 nhánh Lô căn tươi sắc lên thấy bay mùi thơm ra thì lấy uống, không đun quá vì nó dễ bay mất hơi.
- Bệnh nặng, ngày uống 3 lần, và đêm 1 lần.
- Bệnh nhẹ, ngày uống 2 lần, đêm 1 lần.
b. Tân gia hương nhu ẩm
Hương nhu 2 đồng cân, Bạch biển đậu 6 đồng cân,
Hậu phác 2 đồng cân, Kim ngân hoa 3 đồng cân,
Liên kiều 3 đồng cân.
c. Hạnh tô tán
Tử tô 3 đồng cân, Sinh khương 2 đồng cân,
Khổ hạnh nhân 3 đồng cân, Tiền hồ 3 đồng cân,
Cát cánh 3 đồng cân, Trần bì 1 đồng cân,
Chỉ xác 2 đồng cân, Chế bán hạ 3 đồng cân,
Phục linh 3 đồng cân, Đại táo 5 quả,
Cam thảo 1 đồng cân.
d. Tang hạnh thang
Tang diệp 3 đồng cân, Hạnh nhân 3 đồng cân,
Sa sâm 3 đồng cân, Tượng bối mẫu 3 đồng cân,
Đậu xị 3 đồng cân, Sơn chi 1,5 – 3 đồng cân,
Lê bì lượng vừa phải.
đ. Thanh táo cứu phế thang
Tang diệp 3 đồng cân, Thạch cao 5 đồng cân – 1 lạng,
Nhân sâm (nhất thiết đều dùng Hài nhi sâm hoặc Sa sâm) trên dưới 3 đồng cân,
Cam thảo 1 đồng cân, Sa nhân 3 đồng cân,
A giao 2 – 3 đồng cân, Mạch đông 3 đồng cân,
Hạnh nhân 3 đồng cân, Tỳ bà diệp 3 đồng cân.
e. Ma hoàng thang
Ma hoàng 1-3 đồng cân, Quế chi 1-3 đồng cân,
Hạnh nhân 3 đồng cân, Cao thảo (chích) 1 đồng cân.
g. Kinh phòng giải biểu thang (kinh phòng bại độc tán)
Kinh giới 3 đồng cân, Phòng phong 3 đồng cân,
Sài hồ 3 đồng cân, Xuyên khung 2 đồng cân,
Khương hoạt 2 đồng cân, Phục linh 3 đồng cân,
Cát cánh 2 đồng cân, Tiền hồ 3 đồng cân,
Chỉ xác 3 đồng cân, Nhân sâm 1 đồng cân,
Cam thảo 1 đồng cân, Sinh khương 3 lát,
Bạc hà thêm vào một ít.
h. Quế chi thang
Quế chi 1,5 – 3 đồng cân, Bạch thược dược 2 – 3 đồng cân,
Chích cam thảo 1 – 2 đồng cân, Sinh khương 2 – 4 lát,
Đại táo 4 – 6 quả.
2. Bệnh phần Khí
a. Bạch hổ thang (Thạch cao tri mẫu thang)
Thạch cao 1 – 3 lạng, Tri mẫu 5 đồng cân,
Cam thảo 1 – 2 đồng cân, Canh mễ (gạo mùa) 1 lạng.
b. Vương thị thanh thử ích khí thang
Đạm trúc diệp 2 đồng cân, Hà anh 5 đồng cân,
Tây qua bì 1 lạng, Thạch hộc 3 đồng cân,
Tri mẫu 2 đồng cân, Hoàng liên 1 đồng cân,
Mạch đông 3 đồng cân, Tây dương sâm 1,5 đồng cân,
Canh mễ 3 đồng cân, Cam thảo 2 đồng cân.
c. Đại thừa khí thang
Đại hoàng 2 – 4 đồng cân,
Mang tiêu (hiện dùng Huyền minh phấn là thứ tinh chế của Mang tiêu) từ 3 – 5 đồng cân,
Hậu phác 3 – 4 đồng cân, Chỉ thực 2 – 4 đồng cân.
Đun trước Chỉ thực và Hậu phác sôi chừng hơn 10 phút, bỏ thêm Đại hoàng. Giữ sôi dăm ba dạo, sau đó bỏ bã, lại bỏ Mang tiêu hoặc Huyền minh phấn vào thì có thể uống được.
- Nhất thiết trước hết uống nước sắc đầu khi mà 2, 3 giờ sau chưa thấy tả hạ mới lại uống lần thứ hai.
- Nếu đã đại tiện được dễ dàng thì thuốc còn lại không uống nữa.
d. Cam lộ tiêu độc ẩm
Hoắc hương 3 đồng cân, Bạch đậu khấu 1 đồng cân,
Hoàng cầm 4 đồng cân, Nhân trần khao 5 đồng cân,
Hoạt thạch 6 đồng cân, Mộc thông 2 đồng cân,
Liên kiều 4 đồng cân, Xuyên bối mẫu 2 đồng cân,
Xạ can 3 đồng cân, Xương bồ 2 đồng cân,
Bạc hà 1 đồng cân, hậu hạ (cho vào sau).
đ. Cầm liên thang (Cát căn cầm liên thang)
Cát căn 6 đồng cân, Hoàng cầm 3 đồng cân,
Hoàng liên 2 đồng cân, Cam thảo 2 đồng cân.
e. Sài cát giải cơ thang
Sài hồ 1 – 3 đồng cân, Cát căn 2 – 4 đồng cân,
Khương hoạt 2 – 4 đồng cân, Bạch chỉ 1 đồng cân,
Cát cánh 1 – 2 đồng cân, Hoàng cầm 2 – 4 đồng cân,
Cam thảo 1 – 2 đồng cân, Xích thược dược 2 – 3 đồng cân,
Thạch cao 5 đồng cân đến 1 lạng.
g. Tiểu sài hổ thang
Sài hồ 2 – 4 đồng cân, Hoàng cầm 1,5 – 3 đồng cân,
Bán hạ 2 – 3 đồng cân, Chích cam thảo 1 – 2 đồng cân,
Nhân sâm hoặc Đảng sâm 3 – 4 đồng cân,
Gừng sống 2 – 4 lát, Đại táo 4 – 6 quả.
3. Bệnh phần Doanh
a. Thanh doanh thang
Tê giác 0,3 – 1 đồng cân, Sinh địa 5 – 10 đồng cân,
Huyền sâm 2 – 4 đồng cân, Trúc diệp tâm 1 – 2 đồng cân,
Ngân hoa 3 – 5 đồng cân, Liên kiều 2 – 3 đồng cân,
Hoàng liên 1 – 2 đồng cân, Đảng sâm 2 – 5 đồng cân,
Mạch đông 2 – 4 đồng cân.
b. Tử tuyết đan
Kim bạc, Hàn thủy thạch, Từ thạch, Thạch cao, Tê giác, Linh dương giác, Thanh mộc hương, Trầm hương, Huyền sâm, Thăng ma, Cam thảo, Đinh hương, Phác tiêu, Tiêu thạch, Xạ hương, Chu sa (trong danh sách không ghi tễ lượng của từng vị).
c. An cung ngưu hoàng hoàn
Ngưu hoàng 1 lạng, Uất kim 1 lạng,
Tê giác 1 lạng, Hoàng liên 1 lạng,
Chu sa 1 lạng, Sơn chi 1 lạng,
Hùng hoàng 1 lạng, Hoàng cầm 1 lạng,
Băng phiến 2,5 đồng cân, Trân châu 5 đồng cân,
Xạ hương 2, 5 đồng cân.
d. Chí bảo đan
Nhân sâm 1 lạng, Chu sa 1 lạng,
Xạ hương 1 đồng cân, Chế Nam tinh 3,5 đồng cân,
Thiên trúc hoàng 1 lạng, Tê giác 1 lạng,
Băng phiến 1 đồng cân, Ngưu hoàng 5 đồng cân,
Hổ phách 1 lạng, Hùng hoàng 1 lạng,
Đại mại 1 lạng.
(Phương gốc lại có An tức hương, Kim bạc, Nhân bạc, là 3 thứ thuốc trong thuốc chế sẵn ở vùng Thượng Hải bán ra, đã giảm bỏ không dùng).
Các vị trên nghiền nhỏ mịn, trộn đều, thêm mật nấu 20-30% trộn làm viên, mỗi tễ lượng như trên làm thành 240 viên. Ngày uống 1-2 viên, dùng nước sôi để nguội hòa tan mà uống, chia làm 2 – 4 lần.
d. Chỉ kinh tán
Toàn yết, Ngô công.
Các vị bằng nhau, nghiền nhỏ, hợp thành tán tễ để sẵn dùng.
Mỗi lần uống 3 – 5 phân, ngày uống 2 – 4 lần. Nước sôi để ấm ngoáy đều uống, trẻ em
căn cứ tuổi tác liệu chừng giảm bớt.
4. Bệnh phần Huyết
a. Tê giác địa hoàng thang
Tê giác 3 phân đến 1 đồng cân,
Sinh địa hoàng 5 đồng cân đến 1 lạng,
Xích thược dược 2 – 4 đồng cân,
Đan bì 2 – 4 đồng cân.
b. Thanh ôn bại độc ẩm
Thạch cao 2 lạng,
Sinh địa hoàng 5 đồng cân đến 1 lạng,
Xích thược dược 2 – 4 đồng cân,
Đan bì 2 – 4 đồng cân,
Tê giác 3 phân đến 1 đồng cân,
Hoàng liên 1 – 3 đồng cân,
Chi tử 2 – 4 đồng cân, Cát cánh 1 – 2 đồng cân,
Hoàng cầm 2 – 4 đồng cân, Tri mẫu 2 – 4 đồng cân,
Huyền sâm 2 – 4 đồng cân, Liên kiều 2 – 4 đồng cân,
Cam thảo phấn 8 phân đến 1,5 đồng cân,
Trúc diệp 1 – 2 đồng cân.
Thạch cao sắc trước, sau khi đun sôi được hơn 10 phút, lại bỏ các vị thuốc khác vào.
Tê giác mài với nước uống thêm vào, hoặc dùng lấy một phân Ngưu hoàng nhân tạo, hoặc 1 lạng sừng trâu dùng thay.
c. Ngọc nữ tiễn
Thạch cao 1 – 2 lạng, Mạch đông 2 – 4 đồng cân,
Tri mẫu 2 – 3 đồng cân, Ngưu tất 2 – 4 đồng cân,
Thục địa 4 đồng cân đến 1 lạng.
d. Phục mạch thang (Chích cam thảo thang)
Chích cam thảo 3 đồng cân, Đảng sâm 2 đồng cân,
Sinh địa hoàng 1 lạng, A giao 3 đồng cân,
Mạch đông 3 đồng cân, Ma nhân 3 đồng cân,
Quế chi 2 đồng cân, Sinh khương 3 đồng cân,
Đại táo 6 quả.
Gia giảm Phục mạch thang: Lấy thang Phục mạch gia giảm vào như sau:
Bỏ đi các vị: Sinh khương, Quế chi, Đảng sâm, Đại táo.
Thêm vào: Bạch thược.
đ. Hồi dương cứu nghịch thang
Thục phụ tử 3 đồng cân, Nhục quế 1 đồng cân,
Can khương 1,5 đồng cân,
Cát lâm sâm 3 đồng cân (hãm riêng),
Xạ hương 3 ly (cho vào lúc uống),
Ngũ vị tử 2 đồng cân, Trần bì 1 đồng cân,
Pháp bán hạ 3 đồng cân, Phục linh 3 đồng cân,
Bạch truật 3 đồng cân, Chích cam thảo 1 đồng cân.
e. Tam nhân thang
Hạnh nhân 3 đồng cân,
Bạch khấu nhân 8 phân đến 1,5 đồng cân,
Dĩ nhân 3 – 5 đồng cân, Hậu phác 1 – 2 đồng cân,
Thông thảo 1 đồng cân, Hoạt thạch 3 – 5 đồng cân,
Trúc diệp 1 – 3 đồng cân, Chế bán hạ 1,5 – 3 đồng cân.
g. Cam lộ tiêu độc ẩm: xem ở phần khí.
h. Tam giáp phục mạch thang
Mấu lễ 1 lạng,
Miết giáp 5 đồng cân đến 1 lạng,
Chích cam thảo 3 đồng cân,
Quy bản 5 đồng cân đến 1 lạng,
Sinh Bạch thược 3 – 6 đồng cân,
Đại Sinh địa 5 đồng cân đến 1 lạng,
Mạch đông 3 – 6 đồng cân,
Ma nhân 3 đồng cân,
A giao 4 đồng cân.
i. Ô mai hoàn
Tên vị Tễ lượng hoàn Tễ lượng thang
Ô mai nhục, 9 lạng, 5 quả,
Hoàng liên, 16 lạng, 3 đồng cân,
Hoàng bá, 6 lạng, 3 đồng cân,
Nhân sâm hoặc Đảng sâm, 6 lạng, 3 đồng cân,
Dương quy, 4 lạng, 3 đồng cân,
Chế phụ tử, 6 lạng, 2 đồng cân,
Quế chi, 6 lạng, 2 đồng cân,
Sao Xuyên tiêu, 4 lạng, 2 đồng cân,
Can khương, 10 lạng, 2 đồng cân,
Tế tân, 6 lạng, 1 đồng cân.
Cách chế hoàn tễ: Ô mai nhục dùng giấm 50% ngâm 1 đêm, giã nát, hòa vào số thuốc còn lại giã đều, sấy hoặc phơi khô, nghiền thành bột nhỏ mịn, thêm mật làm viên. Mỗi lần uống 3 đồng cân, ngày uống 1 – 3 lần, uống lúc đói bụng.
Tễ lượng thang tễ ghi trên là của Nam Khai Y viện.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)